Về Phú Yên chiêm bái ngôi chùa ghi dấu ấn đầu tiên nơi vị Tổ của Thiền phái Liễu Quán xuất gia, học Đạo

13-01-2024

(Kyluc.vn) Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) là vị sư tổ của thiền phái Liễu Quán - một dòng thiền mang sắc thái riêng của người Việt, ra đời từ thế kỷ XVIII. Ngày nay, thiền phái Liễu Quán có mặt khắp mọi miền đất nước với sự truyền thừa mạnh mẽ và phát triển trong gần 300 năm qua. Chùa Cổ Lâm - Hội Tôn (Phú Yên) là ngôi chùa ghi dấu ấn đầu tiên nơi Thiền sư Liễu Quán - Vị Tổ của Thiền phái Liễu Quán tại Việt Nam xuất gia, học Đạo.

Ngôi chùa ghi dấu ấn là nơi đầu tiên mà vị sư tổ Thiền phái Liễu Quán xuất gia, tu tập

Chùa Cổ Lâm - Hội Tôn hiện tọa lạc tại thôn Diêm Điền, xã An Ninh Tây, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Tên gọi chùa Cổ Lâm Hội Tôn là được ghép từ hai chùa: Chùa Cổ Lâm và chùa Hội Tôn. Chùa Hội Tôn được biết đến như ngôi chùa cổ nhất ở Phú Yên do Hòa thượng Tế Viên khai sáng, cũng là nơi đầu tiên Tổ sư Liễu Quán xuất gia, tu tập. Tuy nhiên, do tiến trình phát triển của lịch sử, chùa Hội Tôn nay chỉ còn lưu dấu một ngôi tháp, 3 giếng nước cùng nền gạch cũ. Các pháp khí và một số bảo tháp chùa Hội Tôn đã kịp thời được chuyển sang chùa Cổ Lâm (cách chùa Hội Tôn khoảng 700m). 

Từ ý nghĩa lịch sử này, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Yên đã đổi tên chùa Cổ Lâm thành chùa Cổ Lâm - Hội Tôn.

 

 Chùa Cổ Lâm - Hội Tôn​ có diện tích đất khoảng 1 hecta, mặt quay hướng Đông Nam, dựa lưng vào núi Sơn Chà.  

 

Ngôi chánh điện ở giữa, bên phải là Tổ đường thờ Tổ sư Liễu Quán, bên trái là Tổ đường Cổ Lâm - Hội Tôn.

 

Ngày 31/12/2014, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên đã cấp bằng xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Tỉnh đến Chùa Cổ Lâm - Hội Tôn. Để tái thiết ngôi chùa cổ của tỉnh, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Yên đã tổ chức lễ đặt đá xây chùa vào ngày 31/12/2015 nhân ngày Húy nhật Tổ sư Liễu Quán (22/11 Âm lịch hằng năm). 

Với những giá trị lịch sử văn hóa đặc biệt cùng những đóng góp quan trọng trong lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam - VietKings chính thức xác lập Kỷ lục với nội dung: Ngôi Chùa ghi dấu ấn đầu tiên nơi Thiền sư Liễu Quán - Vị Tổ của Thiền phái Liễu Quán tại Việt Nam xuất gia, học Đạo. 

Bằng xác lập trao đến chùa Cổ Lâm - Hội Tôn (Thôn Diêm Điền, xã An Ninh Tây, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) tại sự kiện Hội ngộ Kỷ lục gia lần thứ 53 diễn ra vào ngày 06/01/2024 tại TP.Hồ Chí Minh.

 

Đại Đức Thích Quảng Bá - Phó trụ trì chùa Cổ Lâm Hội Tôn, Đại diện nhận Bằng Kỷ lục tại sự kiện.

 

Thiền sư Liễu Quán - Vị Sư Tổ của dòng thiền thuần Việt có lịch sử phát triển gần 300 năm 

Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) người làng Bạc Mã, huyện Đồng Xuân, phủ Phú Yên; nay là thôn Trường Xuân, thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Năm lên 6 tuổi, mẹ mất, ngài vào chùa Hội Tôn học đạo với Hòa thượng Tế Viên, vị thiền sư Trung Quốc khai sơn chùa Hội Tôn. Sau 7 năm học đạo tại chùa, khi bổn sư viên tịch, ngài ra xứ Thuận Hóa đảnh lễ thọ giáo với Hòa thượng Giác Phong, vị thiền sư Trung Quốc khai sơn chùa Báo Quốc. Quãng thời gian này, ngài tiếp tục trải qua những thử thách của số phận nhưng ngài chẳng quản gian lao, sống đời đạm bạc, tiếp tục đi tham học với các bậc thạc đức cao tăng, thăm viếng nhiều chùa để học hỏi đạo lý trên con đường tu đạo của ngài.

Năm 1702, ngài đến chùa Ấn Tôn (tức Từ Đàm ngày nay), đảnh lễ Tổ Minh Hoằng Tử Dung cầu học pháp tham thiền. Sau khi trải qua giai đoạn tu tập tỏ ngộ, Hòa Thượng Tử Dung rất vui mừng ấn khả. Sau khi được truyền tâm ấn, ngài thường ra vào Huế - Phú Yên để tùy duyên hóa đạo, chẳng nề xa xôi, khó nhọc.

 

Chân dung Tổ sư Liễu Quán (1670-1742).

 

Ngài Liễu Quán viên tịch năm Nhâm Tuất (1742), 43 tuổi hạ, 72 tuổi đời, hơn 30 năm thuyết pháp độ sanh, với 49 đệ tử xuất gia danh tiếng và rất đông đệ tử tại gia. Sau khi thiền sư viên tịch, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã ban chiếu sắc lập bia và ban thụy hiệu là "Chính Giác - Viên Ngộ Hòa Thượng".

Thiền sư Thích Nhất Hạnh viết về Thiền sư Liễu Quán:

...Thiền sư Liễu Quán đã làm cho thiền phái Lâm Tế trở thành một thiền phái linh động, có gốc rễ ở Đàng Trong. Trước ông, Phật giáo ở Đàng Trong mang nặng màu sắc Quảng Đông. Ông đã Việt hóa thiền phái Lâm Tế, và làm cho thiền phái này trở thành thiền phái của đa số Phật tử Đàng Trong. Kiến trúc lễ nhạc bắt đầu trút bỏ màu sắc Trung Quốc và từ từ mang lấy màu sắc dân tộc. Những bài tán lễ như "Cực lạc Từ Hàng" chẳng hạn, đã hoàn toàn mang màu sắc Việt. Bốn vị đệ tử lớn của ông là Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế Nhân và Từ Chiếu dã tạo lập bốn trung tâm hoằng đạo lớn, và hàng chục tổ đình được tạo dựng khắp Đàng Trong trong thế kỷ 18 đã thuộc về môn phái Liễu Quán. Phong trào Phật giáo phục hưng ở thế kỷ 20 đã dựa trên cơ sở của môn phái mang tên ông...[13].

Trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược cũng có viết, dưới triều chúa Nguyễn ở Đàng Trong, phong trào phát triển Phật giáo nói chung và Thiền phái Lâm Tế nói riêng phát triển mạnh mẽ. Tổ Liễu Quán khai sinh Tổ đình Thiền tông, nhà sư đã Việt hóa thiền phái Lâm Tế thành pháp phái Liễu Quán mang màu sắc dân tộc. Pháp phái Liễu Quán bám rễ bền chặt, phát triển khắp xứ Đàng Trong và tiếp nối cho đến tận hôm nay.

Đạo phong và công hạnh của thiền sư không chỉ được hầu hết mọi tầng lớp xã hội đương thời, từ vương hầu khanh tướng đến tăng tín đồ quy ngưỡng, mà trong gần 300 năm qua, nguồn mạch thiền phái này vẫn phát triển và có nhiều đóng góp quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

 

Kim Huệ (Ảnh: Đơn vị cung cấp, Internet)


 

content 1 mobi
content1
content 2 mobi
content 2
ct9
ct11
ct12
ct14